Cây giống dạ cẩm
Liên hệ báo giá
Sản phẩm cần liên hệ để báo giá — thêm vào giỏ rồi yêu cầu báo giá cho nhiều sản phẩm cùng lúc, hoặc .
Mô tả sản phẩm
Độ hoàn thiện nội dung: 50%.
Cây dạ cẩm hay cây loét mồm, đất lượt, đứt lượt, chạ khẩu cắm, ngón lợn, dây ngón cúi (danh pháp khoa học là Hedyotis capitellata Wall. ex G.Don, tên cũ là Oldenlandia capitellata Kuntze) là một loài thực vật có hoa trong họ Thiến thảo Rubiaceae. Loài này được Wall. ex G.Don mô tả khoa học lần đầu tiên vào năm 1834.
Lưu ý: Tên khoa học Oldenlandia aepitellata được đề cập trên một số website là cái tên bị viết sai chính tả, khi “ca” bị viết thành “ea“. Trong sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi cũng viết sai nên bạn đọc cần chú ý.



Mô tả cây dạ cẩm
Dạ cẩm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Cây dạ cẩm vốn có tên là loét mồm vì nhân dân vùng Lạng Sơn, Cao Bằng dùng nó chữa loét mồm, loét lưỡi, là một loại cây bụi hoặc trườn, thường cuốn vào cây khác, dài tới 1 – 2m. Thân hình trụ, tại những đối phình to ra. Lá đơn, nguyên, mọc đối, hình bầu dục, đầu nhọn, dài 5 – 15cm, rộng 3 – 6cm, cuống ngắn. Cụm hoa hình xim phản đối tụ lại thành hình cầu ở đầu cành hay kẽ lá, gồm nhiều hoa hình ống nhỏ, màu trắng. Quả rất nhỏ, xếp thành hình cầu.
Trên thực tế hiện nay người ta dùng 4 loại cây dạ cẩm, có thể là các dạng của loài mô tả trên: Cây dạ cẩm thân tím và cây dạ cẩm thân xanh (có khi gọi là thân trắng); mỗi loại lại thấy có 2 loại: loại nhiều lông nhìn rõ và loại ít lông trông không rõ. Loại thân tím có đốt cách thưa nhau, loại thân xanh hay trắng có đốt mọc sít nhau hơn.
Dạ cẩm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây bụi, leo bằng thân quấn. Cành lúc non hình bốn cạnh, sau tròn, phình to ở những đốt. Lá mọc đối, hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc tròn hay nhọn, đầu nhọn, dài 5 – 15 cm, rộng 3 – 5 cm, mặt trên xanh sẫm bóng, mặt dưới rất nhạt, gân lá nổi rất rõ; lá kèm chia 4 – 5 thùy hình sợi; cuống ngắn.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành xim phân đôi, gồm những đầu tròn mang hoa màu trắng hoặc trắng vàng; dài 4 thuỳ hình giáo nhọn, nhẵn; tràng hợp hình ống, 4 cánh hơi có lông ở mặt ngoài, ống tràng có lông ở họng; nhị 4, chỉ nhị ngắn, bao phấn hình dài, vượt ra ngoài ống tràng; bầu 2 ô, có lông. Quả nang, chứa nhiều hạt rất nhỏ. Toàn cây có lông mịn. Mùa hoa quả: tháng 5 – 7.
Trên thực tế hiện nay, có nhiều loài được sử dụng làm dạ cẩm. Có loài thân tím có lông và không lông, có loài thân xanh (còn gọi là thân trắng) cũng có lông và không lông. Loài thân tím có lông được dùng phổ biến hơn.

Thông tin thêm
Dạ cẩm – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa lỗi chính tả):
Cây dạ cẩm hiện nay mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Hà Tây nhưng chưa nơi nào đặt vấn đề về trồng trọt.
Mùa thu hái hầu như quanh năm: Thường hái lá và ngọn non, có thể dùng toàn cây, trừ bỏ rễ (tác dụng kém hơn).
Hái về rửa sạch phơi hay sấy khô, để nơi khô ráo dùng dẫn hay nấu thành cao.
Dạ cẩm – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập I – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Chi Hedyotis L. có khoảng 420 loài, phân bố khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Dạ cẩm là loài thường gặp ở Lào, các tỉnh Nam Trung Quốc và Việt Nam.
Ở Việt Nam, dạ cẩm phân bố rộng rãi khắp các tỉnh miền núi và trung du đến độ cao đến 1000 m. Cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc ở đồi, ven rừng, bờ nương rẫy, đặc biệt trong các quần thể cây bụi và dây leo nhỏ, trên đất sau nương rẫy. Dạ cẩm ra hoa quả nhiều hàng năm. Phần thân và gốc còn lại sau khi bị chặt có khả năng tái sinh khỏe.
Nguồn dạ cẩm ở Việt Nam tương đối dồi dào. Trong các năm 1960 – 1990, người ta đã khai thác được từ vài chục đến vài trăm tấn mỗi năm. Với lượng khai thác như vậy, không ảnh hưởng gì tới tiềm năng dự trữ tự nhiên vốn có của cây.
3. Thành phần hoá học và dược tính (sưu tầm)
Luận án “Nghiên cứu về thực vật, thành phần hóa học và một số tác dụng sinh học của cây dạ cẩm (Hedyotis capitellata Wall. ex G.Don)” của Lại Quang Long; Thư viện Quốc gia Việt Nam; LA01.0668.3, 2001:
(1) Thành phần hóa học
Đã định tính các nhóm chất hữu cơ có trong thân,lá và rễ ở 3 thứ của loài Hedyotis capitellata gồm H. capitellata var. mollis, H. capitellata var. glabra và H. capitellata var. pedicellata cho thấy chúng đều có alkaloid, saponin, iridoid, tanin, riêng ở rễ có thêm anthranoid.
– Đã xác định hàm lượng alkaloid toàn phần của các cây H. capitellata var. mollis thu hái ở Hoành Bồ – Quảng Ninh có ở thân, lá là 0,14% và ở rễ là 1,98%, cây H. capitellata var. glabra thu hái ở Tiên yên – Quảng Ninh có ở phần thân, lá là 0,12% và ở rễ là 1,12%, cây H. capitellata var. pedicellata thu hái ở Hải Phòng có ở phần thân lá là 0,08% và ở rễ là 0,98%.
– Đã định lượng anthranoid toàn phần trong rễ của 3 cây nghiên cứu; rễ cây H. capitellata var. mollis có 0,097%; rễ cây H. capitellata var. glabra có 0,076% và rễ cây H. capitellata var. pedicellata có 0,082%.
– Đã xác định hàm lượng saponin toàn phần của H. capitellata var. mollis thu hái ở Hoành Bồ – Quảng Ninh ở thân, lá là 0,658% và ở rễ là 0,511%.
– Lần đầu tiên từ rễ của cây Dạ cẩm H. capitellata var. mollis đã chiết xuất và phân lập được 2 alkaloid là KLD2 và KLD6 và hợp chất KLD1. Căn cứ vào các dữ liệu phổ UV, IR, MS, NMR đã xác định cấu trúc của KLD6 là Hedyocapitin, KLD2 là Capitellin. Phần đường của saponin là Glucose và Galactose. Các đường này gắn vào OH ở C-3 của axit oleanolic.
(2) Tác dụng sinh học
– Đã thử độc tính cấp diễn xác định LD50 tính theo dược liệu khô của thân, lá Dạ cẩm là 160,00 ± 24,12 g/kg thể trọng chuột, của rễ là 344,00 ± 64,00 g/kg thể trọng chuột. Alkaloid toàn phần không thể hiện có độc tính khi dùng đường uống ở liều 1400mg/kg thể trọng chuột.
– Trên mô hình gây đau bằng nhiệt, dung dịch alkaloid toàn phần 1% ở liều 39,2mg alkaloid/kg thể trọng chuột có tác dụng giảm đau là 37,9%; nước sắc thân, lá (2:1) ở liều 7,48g dược liệu/kg thể trọng chuột có tác dụng giảm đau là 56,9%.
– Dung dịch alkaloid toàn phần 1% ở liều 196,1mg alkaloid/kg thể trọng có tác dụng ức chế phù viêm cấp trên chuột cống trắng là 32,35% và nước sắc thân, lá (2:1) ở liều 37,4g dược liệu khô/kg thể trọng là 24,51% so với lô chứng.
– Dung dịch alkaloid toàn phần 1% ở liều 274mg alkaloid/kg thể trọng có tác dụng làm giảm trọng lượng u hạt trong mô hình thử tác dụng chống viêm mạn trên chuột cống trắng là 27,57%,còn nước sắc thân, lá (2:1) ở liều 52,36g dược liệu khô/kg thể trọng làm giảm 20,26% trọng lượng u hạt so với lô chứng.
…



Cây dạ cẩm có tác dụng gì ?
Dạ cẩm có vị ngọt, hơi đắng, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, làm dịu cơn đau, tiêu viêm, lợi tiểu.
Cây dạ cẩm được dùng điều trị các bệnh lở loét miệng lưỡi, loét dạ dày, viêm họng, lở loét ngoài da, chữa vết thương làm chóng là da non. Chữa lở loét miệng lưỡi bằng cách lấy toàn thân cây băm nhỏ, nấu cao lỏng, trộn mật ong, bôi hằng ngày.
Dựa trên cơ sở tác dụng này, năm 1962, bệnh viện Lạng Sơn đã dùng dạ cẩm chữa loét dạ dày, với tác dụng làm giảm đau, trung hòa acid trong dạ dày, bớt ợ chua, làm vết loét se lại. Ngày dùng 20 – 40g, dạng thuốc sắc, thuốc hãm, thuốc cao, thuốc bột hoặc cốm, chia làm hai lần uống trong ngày vào lúc đau hoặc trước khi ăn. Trẻ em dùng liều thấp hơn. Chữa vết thương làm chóng lên da non, lá tươi giã với muối đắp.
Ngoài công dụng trên, nhân dân còn dùng ngọn non dạ cẩm phối hợp với hoa cỏ bạc đầu và lá cây răng cưa, giã đắp chữa đau mắt; phối hợp với vỏ cây đỗ trong đam, đắp bó chữa bong gân.
Bài thuốc có dạ cẩm:
Chữa viêm loét dạ dày:
- Lá dạ cẩm khô 7 kg, đường kính 2 kg, mật ong 1 kg. Nấu lá dạ cẩm với nước thành 8 kg cao, cho vào 2 kg đường và đánh tan, cô còn 9 kg. Cuối cùng thêm 1 kg mật ong. Cao có màu nâu đen, vị hơi đắng và có mùi lá cây. Đóng thành chai 250 ml. Ngày uống 2 – 3 lần, trước khi ăn hoặc khi đau, mỗi lần một thìa to (tương đương 10 – 15g). Dạng thuốc này đã được sản xuất hàng loạt và bán ra thị trường với tên “Cao dạ cẩm” từ năm 1963.
- Bột lá khô dạ cẩm 7 kg, cam thảo 1 kg, đường kính 2 kg, hồ nếp vừa đủ. Làm thành cốm. Ngày uống 2 lần trước khi ăn hoặc khi đang đau, mỗi lần 10 – 15g. Trẻ em dưới 18 tuổi: 5 – 10g.
Cách trồng cây dạ cẩm
Cây dạ cẩm có thể trồng trên nhiều loại đất như đất thịt, đất cát, đất xám, …nhưng không bị phèn hoặc mặn, phải cao ráo, thoát nước. Tốt nhất là đất có nhiều mùn.
Đất cần cày bừa kỹ, phơi ải, đập nhỏ và nhặt sạch cỏ. Lên luống rộng 1,0 – 1,2 m, cao 20 – 25 cm, giữ các luống có rãnh rộng 30 – 40 cm. Nếu ruộng trước đó có trồng lúa thì đào rãnh lên luống, rãnh rộng và sâu 40 – 50 cm, đất đào rãnh đắp lên thành luống.
Cây dạ cẩm mua ở đâu uy tín chất lượng ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây dạ cẩm phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Sản phẩm liên quan
Bạn có thể xem thêm
Cây tương tự, giá tham khảo ở các nhà vườn khác
















