Cây giống hạ khô thảo
Liên hệ báo giá
Sản phẩm cần liên hệ để báo giá — thêm vào giỏ rồi yêu cầu báo giá cho nhiều sản phẩm cùng lúc, hoặc .
Mô tả sản phẩm
Sửa chính tả và điều chỉnh lại nội dung: 26/3/2025;
Hạ khô thảo, tên tiếng Anh là ommon self-heal, heal-all, woundwort, heart-of-the-earth, carpenter’s herb, brownwort, blue curls (danh pháp khoa học là Prunella vulgaris L.) là một loài thực vật có hoa trong họ Hoa môi Lamiaceae.
Giải thích tên gọi: Cây hạ khô thảo thường mọc lá sau tiết Đông chí, nở hoa vào tháng 3 – 4, hạt mọc thành chùm, tháng 5 lại khô héo. Vì thường sinh trưởng vào mùa tuyết gió lạnh, đến mùa hè lại khô héo, nên có tên gọi là hạ khô thảo.



Mô tả cây hạ khô thảo
Hạ khô thảo là một cây sống dai có thân vuông màu hơi tím đỏ, lá mọc đối, hình trứng hay hình mác dài, mép nguyên hoặc hơi có răng cưa, có ít lông ở thân và lá. Cụm hoa mọc ở đầu cành giống như bông do nhiều hoa có cuống ngắn mọc vòng, mỗi vòng có 5 – 6 hoa. Đài hoa có 2 môi, môi trên có 3 răng, môi dưới có 2 răng, hình 3 cạnh. Cánh hoa màu tím nhạt hình môi, môi trên như cái mũ, môi dưới xẻ ba, thùy giữa rộng hơn. Nhị 2 dài, 2 ngắn, đều thò ra khỏi tràng. Bầu có bốn ngăn, vòi nhỏ dài. Quả nhỏ cứng.
Thông tin thêm
1. Phân bố, thu hái và chế biến
Loài cây này thường mọc ở nơi có ánh sáng và độ ẩm đầy đủ. Thường được tập trung thành các đám nhỏ và không có lượng trữ lượng nhiều. Loài cây này có thể nhân giống bằng hạt. Sau khi được trồng trong khoảng 75 – 90 ngày, cây sẽ bắt đầu ra hoa. Mùa hoa của loài cây này là từ tháng 4 đến tháng 6, và quả của nó thường mọc từ tháng 7 đến tháng 10.
Loài cây này phân bố chủ yếu ở các vùng ẩm u và ôn đới của châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và nhiều nước khác trên châu Á. Tại Việt Nam, loài cây này chỉ được tìm thấy ở một số vùng núi ẩm mát như Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Mẫu Sơn (Lạng Sơn) và một số tỉnh khác như Hà Giang, Lai Châu, Kon Tum …
Bộ phận dùng: Cụm hoa – Spica Prunellae, là phân cụm hoa trên cành không quá 15cm tính từ ngọn hoa trở xuống. Ở châu Âu, toàn bộ cây cũng được sử dụng. Khi hoa đã chuyển sang màu nâu, người ta sẽ thu hoạch phân ngọn cây mang hoa và phơi hoặc sấy khô.
2. Thành phần hóa học
Cây Hạ khô thảo – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi:
Hiện nay hãy còn ít tài liệu nghiên cứu về cây này. Mới chỉ biết rằng cành mang hoa và quả chứa chừng 3,5% muối vô cơ tan trong nước. Trong số muối vô cơ này, 68% là kali clorua, ngoài ra còn thấy một chất có tính chất alkaloid.
Hoạt chất khác chưa rõ, gần đây có tác giả lấy được từ cây Brunella vulgaris var. lilacina Nakai (Nhật Bản dược học tạp chí, 1956, 76, 974) hái vào tháng 6 khi ra hoa, chừng 0,56% chất axit ursolic C30H48O3.
Các tài liệu khác có chỉ ra một số hóa chất thực vật bao gồm axit betulinic, D-camphor, D-fenchone, cyanidin, delphinidin, hyperoside, mangan (không phải hóa chất thực vật), axit lauric, axit oleanolic, axit rosmarinic, axit myristic, rutin, axit linoleic, axit ursolic, β-sitosterol, lupeol và tannin (C. P. Khare; Indian Medicinal Plants: An Illustrated Dictionary. Springer. p. 103.; 2007) (James A. Duke et al.; Handbook of Medicinal Mints (Aromathematics): Phytochemicals and Biological Activities. CRC. p. 222; 2001).



Tác dụng theo y học cổ truyền
1. Tính vị, tác dụng
Hạ khô thảo có vị đắng, cay và tính hàn; có tác dụng lợi tiểu, mát gan, sát trùng và tiêu độc. Nó cũng được cho là thanh hỏa minh mục, tán kết tiêu thũng.
Chủ trị cơ thể lúc nóng lúc lạnh, cổ kết hạch bị vỡ gây rò mủ, lở loét, chốc đầu, còn có thể phá bỏ các hạch, trị bướu cổ, chữa chứng tê bì do tà thấp, hơn nữa còn có thể làm cho cơ thể nhanh nhẹn.
Ở Pháp, nó được cho là có các tính chất làm se, tiêu sưng, giảm đường huyết và làm sạch.
2. Tác dụng
Hạ khô thảo được sử dụng để điều trị nhiều loại bệnh, bao gồm đau mắt và chảy nước mắt, tràng nhạc (lao hạch), bướu cổ, sưng vú, viêm tử cung và âm hộ, gan mật nhiệt, huyết áp cao, viêm thần kinh da, lở ngứa, mụn nhọt, hắc lào, vẩy nến và tiểu tiện ít không thông. Liều dùng thường là 6 – 12g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, có thể dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.
Ở Trung Quốc, dân gian sử dụng nó để trị đái buốt, lao hạch, đau mắt phong sưng đỏ. Nó cũng được sử dụng để điều trị cao huyết áp, giữ mức hạ áp được lâu và giảm bớt bệnh buồn rầu chủ quan.
Ở Pháp, nó được sử dụng để trị đái đường và được sử dụng bên ngoài để chữa mụn nhọt, đau thắt, viêm họng và viêm miệng.
Cách nấu hạ khô thảo: Hạ khô thảo ngoài công dụng làm thuốc, nó còn có thể làm thực phẩm. Lý Thời Trân cho rằng: Nấu mầm non chín, sau đó ngâm cho hết vị đắng, tiếp đó trộn với muối và dầu làm thành món dưa trộn, vị rất ngon. Tuy nhiên, nếu dùng hạ khô thảo trong thời gian dài sẽ làm tổn thương dạ dày và đường ruột, khi sử dụng cần phải hết sức thận trọng.
Bài thuốc từ hạ khô thảo
1. Dưỡng da, giảm thâm mắt và giảm nếp nhăn ở mặt
Để chuẩn bị, lấy 30g lá dâu và 10g hạ khô thảo, sắc với 3 chén nước cho đến khi còn lại 1 chén, lọc lấy nước và để nguội. Sau đó trộn nước ép dưa leo vào và thoa đều lên mặt, rửa sạch sau 15 phút.
2. Chữa tràng nhạc, lở loét
Sử dụng hạ khô thảo 200g sắc đặc, uống trước bữa ăn 2 giờ. Hoặc dùng Hạ khô thảo 8g, Cam Thảo 2g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia thành 3 lần uống trong ngày.
3. Thông tiểu tiện
Dùng hạ khô thảo 8g, Hương Phụ 2g, Cam thảo 1g, nước 300ml, sắc 200ml, chia thành 3 lần uống trong ngày.
4. Chữa cao huyết áp
Sử dụng hạ khô thảo rửa sạch, phơi khô, tán nhỏ 40g, chia thành 2 lần uống trong ngày, sau hai bữa cơm. Uống liên tục trong 10 ngày, nghỉ 7 ngày, sau đó tiếp tục uống từ 2 – 4 đợt tùy theo tình trạng bệnh. Hoặc dùng Hạ khô thảo, Bồ công anh, Hạt muồng ngủ sao, mỗi vị 20g, Hoa cúc, lá Mã Đề, mỗi vị 12g, sắc và uống.
5. Chữa viêm kết giác mạc cấp (đau mắt đỏ), xuất huyết kết giác mạc, mụn nhọt, viêm vú tắc sữa, lao hạch
Sử dụng cháo bồ công anh và hạ khô thảo như sau: lấy bồ công anh 30g, hạ khô thảo 20g và gạo tẻ 60g. Sắc hoặc hãm Bồ Công Anh và hạ khô thảo để lấy nước bỏ bã, cho gạo vào nước sắc để nấu cháo, khi ăn thêm đường trắng để cho đủ ngọt. Dùng trong một đợt 3 – 5 ngày.
6. Trị các bệnh sang lở, mụn nhọt, tràng nhạc, giang mai
Dùng hạ khô thảo 12g, thổ Phục Linh 16g, Ké Đầu Ngựa, Kim Ngân Hoa, liên kiều, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.
7. Chữa nam giới bị lao mào tinh hoàn (thường gặp ở thanh niên từ 20 – 35 tuổi)
Dùng cháo Câu Kỷ Tử – hạ khô thảo: lấy hạ khô thảo 20g, gạo tẻ 30g, câu kỷ tử 15g. Sắc hạ khô thảo để lấy nước bỏ bã, cách nấu hạ khô thảo là cho gạo tẻ và câu kỷ tử vào nấu cháo, khi cháo chín cho nước hạ khô thảo vào, đun sôi đều. Dùng ngày 1 lần, liên tục trong 15 ngày.
Địa chỉ mua cây hạ khô thảo uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm bầu giống hạ khô thảo phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 30k một lần ship.
Sản phẩm liên quan
Bạn có thể xem thêm
Cây tương tự, giá tham khảo ở các nhà vườn khác
















