Cây giống phá cố chỉ (bổ cốt chỉ, phá cốt tử)
Liên hệ báo giá
Sản phẩm cần liên hệ để báo giá — thêm vào giỏ rồi yêu cầu báo giá cho nhiều sản phẩm cùng lúc, hoặc .
Mô tả sản phẩm
Độ hoàn thiện nội dung: 60%.
Phá cố chỉ hay phá cốt tử, cố tử, bổ cốt chỉ, hạt đậu miêu, tên tiếng Anh là babchi (danh pháp khoa học là Cullen corylifolium (L.) Medik.; đồng nghĩa: Psoralea corylifolia L.) là một loài thực vật có hoa thuộc họ Fabaceae Đậu.






Mô tả cây phá cố chỉ
Phá cố chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ mọc hằng năm, cao 0,3 – 1m. Trên thân có lông trắng, lá mọc so le, hình trứng đầu nhọn, đáy lá tròn, mép có răng cưa dài 6 – 9cm, rộng 5 – 7cm, cuống lá dài 2 – 4cm, có lá kèm. Hoa mọc thành chùm dài 6 – 10cm ở kẽ lá, cành hoa màu vàng nâu nhạt. Quả hình trứng màu đen dài 5mm, rộng 3mm. Hạt hình thận hay hình trứng dẹt dài 5mm, rộng 3mm có màu nâu đen hay đen. Trên mặt hạt có văn hình những hạt nhỏ giữa hơi lõm, mùi thơm, vị cay.
Cây phá cố chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Cây nhỏ, sống hằng năm, cao 0,5 – 1m, ít phân cành. Thân thẳng hình trụ, có cạnh và lông nhỏ. Lá kép, 1 lá chét, mọc so le, hình bầu dục, dài 6 – 9cm, rộng 5 – 7cm, gốc hơi hình tim, đầu hơi nhọn, mép có răng cưa, hai mặt nhẵn, gần như cùng màu, điểm những nốt màu đen, gần gốc 5 nổi rõ; cuống lá dài; lá kèm hình liềm.
Cụm hoa mọc ở kẽ lá và đầu ngọn thành bông dạng chùy, có cuống dài; hoa màu hồng hoặc vàng tím nhạt; lá bắc hình mác có lông; đài hình đấu, 5 răng, răng dưới dài hơn; tràng 5 cánh, cánh cờ rộng.bản, các cánh bên và cánh thìa hẹp ngang; nhị 10; bầu nhẵn. Quả đậu, ngắn, hình trứng, hơi dẹt, màu đen, có đài tồn tại, khi chín không nứt, hạt hình thận, màu nâu đen hay đen, lốm đốm những nốt trắng. Mùa hoa quả: tháng 6 – 9.
Thông tin thêm
1. Phân bố, chế biến và thu hái
Phá cố chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Cây nguồn gốc ở Ấn Độ. Có mọc ở Việt Nam nhưng ít khai thác.
Gần đây, ta di thực từ Trung Quốc, cây mọc khỏe. Gieo hạt vào mùa xuân, phủ ít đất lên. Sau nửa tháng cây mọc, mỗi cây trồng cách nhau 10 – 29cm. Vào mùa thu quả chín hái về phơi khô, đập lấy hạt, xay sạch vỏ và đất cát là được. Khi dùng để nguyên hoặc sao, hoặc tẩm muối rồi mới sao khô.
Cây phá cố chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Psoralea L. là chi có phần lớn các loài là cây thân cỏ, bụi và dưới bụi; phân bố ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Ở Việt Nam, chỉ có một loài là phá cố chỉ, được nhập trồng từ Trung Quốc vào những năm 60. Có tài liệu cho rằng phá cố chỉ là cây mọc hoang ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1971 và Võ Văn Chi, 1997). Trên thế giới, phá cố chỉ có vùng phân bố rộng lớn từ Ai Cập đến vùng Trung Á, Pakistan và Trung Quốc. Cây cũng được trồng nhiều ở Ấn Độ (Punjab, Uttar Pradesh và Rajasthan) và Trung Quốc chủ yếu để làm thuốc.
Phá cố chỉ là cây ưa sáng và ưa ẩm. Trong những năm 1970 – 1985, cây được trồng rải rác ở một số tỉnh thuộc đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Cây trồng từ hạt ở vườn thuốc Trạm xã Vân Đình, Hà Tây, sau 1 – 2 năm, bắt đầu có hoa quả. Vài năm gần đây, cây coi như đã bị mất giống; dược liệu hoàn toàn phải nhập từ Trung Quốc.
2. Thành phần hóa học
Phá cố chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi (đã sửa chính tả):
Trong hạt phá cố chỉ có chừng 20% chất dầu, một ít tinh dầu trong đó có psoralen, angelicin, alkaloid, glucoside và 9,2% chất nhựa.
Hoạt chất là tinh dầu, có tác dụng đối với vi trùng Streptococcus trên da, dùng chữa bệnh bạch biến (da bị trắng từng khoảng) vì nó kích thích sự bài tiết các sắc tố đen (mélanoblastes).
Hạt Psoralea corylifolia có chứa một meroterpenoid là bakuchiol (Harumi Katsura et al.; 2001), một furanocoumarin là bakuchicin (Xiang Li et al.; 2011). Quả chứa bakuchiol, psoralen và angelicin (Chwan-Fwu Lin et al.; 2007).
Một flavonol glycoside mới là 3,5,3′,4′-tetrahydroxy-7-methoxyflavone-3′-O-α-L-xylopyranosyl(1→3)-O-α-L-arabinopyranosyl(1→4)-O-β-D-galactopyranoside được phân lập từ hạt P. corylifolia đã loại bỏ dầu có nhiệt độ nóng chảy là 264 – 265oC, công thức phân tử C32H38O20, [M]⁺ 742 (EIMS) (R.N. Yadava et al.; 2005).
Bằng các phân tích phổ (1H-, 13C-NMR, 2DNMR và ESI-MS), Jung Ho Choi cùng cộng sự (2008) đã phân lập được từ P. corylifolia hai flavonoid có gắn nhóm prenyl là bavachin (1) và isobavachalcone (2).
Seung Woong Lee cùng cộng sự (2012) đã phân lập đượ 7 flavonoid từ chiết xuất methanol của Psoralea corylifolia thông qua phân đoạn định hướng hoạt tính sinh học gồm bakuchiol (1), bavachinin (2), neobavaisoflavone (3), corylifol A (4), corylin (5), isobavachalcon (6) và bavachin (7), cấu chúc của chúng được xác định bằng phân tích phổ (1H-, 13C-NMR và MS). Nhóm nghiên cứu cũng chứng minh rằng các hợp chất 1 – 7 có tác dụng ức chế hoạt tính promoter STAT3 do interleukin-6 (IL-6) kích thích trong tế bào Hep3B với giá trị IC50 lần lượt là 4,57 ± 0,45; 3,02 ± 0,53; 2,77 ± 0,02; 0,81 ± 0,15; 1,37 ± 0,45; 2,45 ± 0,13; và 4,89 ± 0,05 µM. Các hợp chất trên cũng ức chế quá trình phosphoryl hóa STAT3 do IL-6 gây ra trong tế bào Hep3B.
…
Công dụng và liều dùng phá cố chỉ
Phá cố chỉ là một vị thuốc còn dùng trong phạm vi nhân dân, làm thuốc bổ dùng cho người già yếu, đau lưng, con trai đau lưng, mỏi gối, tiểu tiện nhiều, hoạt tinh.
Phụ nữ dùng chữa bệnh kinh nguyệt không đều, khí hư. Hạt ngâm rượu, dùng bôi ngoài da chữa bệnh bạch biến (da bị trắng từng chỗ). Ấn Độ dùng làm thuốc chữa hủi, bệnh ngoài da.
Liều dùng: Ngày uống 6 – 15g dưới dạng thuốc sắc, thuốc bột hoặc thuốc viên.
Đơn thuốc có phá cố chỉ:
- Chữa bệnh đi đái nhiều, tinh khí không kiên định: Phá cố chỉ (ngâm rượu rồi sao) 100g, tiểu hồi (sao) 100g. Tán nhỏ, trộn đều, làm thành viên. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 – 5g viên này.
- Bài thuốc chữa ho lao: Phá cố chỉ 400g, tẩm rượu một đêm rồi phơi khô. Sau đó lấy một nắm vừng trộn lẫn với phá cố chỉ rang lên cho đến khi vừng hết nổ (tiêu chuẩn giúp cho ta biết khi nào là được vì vị phá cố chỉ màu đen không biết như thế nào là vừa). Sàng bỏ vừng đi. Lấy phá cố chỉ tán thành bột, làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 30 viên chia làm 2 – 3 lần uống. Chữa chứng ho, mệt, người gầy yếu hay ra mồ hôi.
Theo tài liệu cổ, phá cố chỉ có vị cay, đắng, tính đại ổn, vào 3 kinh tỳ, thận và tâm bào. Có tác dụng bổ mệnh môn trướng hỏa nạp thận khí, là thuốc cường tráng dùng chữa các chứng ngũ lao, thất thương, cốt tủy thương bại, phụ nữ khí huyết xấu, trụy thai, tỳ thận hư hàn, đái són, lưng gối lạnh đau. Phàm những bệnh âm hư hỏa động đi tiểu ra huyết, máu đỏ, đại tiện táo kết không dùng được.
Cách trồng phá cố chỉ
Cây phá cố chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác (đã sửa chính tả):
Phá cố chỉ đã được trồng thử ở Trại trồng cây thuốc Vân Điển và một số nơi khác vào các năm 1964 – 1965 và 1970 – 1971.
Cây được gieo từ hạt vào mùa xuân. Có thể gieo thẳng hoặc gieo trong vườn ươm, khi cây con cao 7 – 10cm, đánh đi trồng.
Đất trồng là loại đất thịt nhẹ, pha cát, được cày bừa kỹ, làm luống cao 20 – 25cm, rộng 0,9 – 1,1m. Cây con được trồng với khoảng cách 25 – 30 x 30 – 40cm. Hạt gieo thẳng cũng gieo theo rạch với khoảng cách như trên, về sau tỉa bớt để định cây.
Mỗi hecta cần bón lót 12 – 15 tấn phân chuồng hoai, 280kg lân và 140kg kali. Tốt nhất là bón theo hốc hoặc theo rạch. Nếu có điều kiện, bón thêm tro bếp càng tốt. Khi cây bắt đầu phân cành, cứ 20 – 25 ngày tưới thúc phân đạm một lần, mỗi lần 60 – 80kg urê cho 1 ha. Mỗi vụ thúc độ 3 lần.
Cần chú ý làm cỏ, xới xáo, vun gốc, tưới nước khi nắng hạn và tháo nước kịp thời khi mưa úng. Chưa gặp sâu bệnh gì đáng kể.
Hạt thu hái vào mùa thu ở quả chín, phơi khô, dùng sống hoặc chế biến như sau:
– Phá cố chỉ sao: Lấy hạt phá cố chỉ sao nhỏ lửa đến khi có mùi thơm.
– Phá cố chỉ chích muối: (Phá cố chỉ 10kg, muối ăn 0,2kg, nước vừa đủ), cho phá cố chỉ vào nước muối trộn đều, để một giờ cho hạt ngấm hết nước muối, rồi sao nhỏ lửa cho phồng. Có thể trước khi ngâm nước muối, ngâm hạt với rượu rồi vớt nước trong 12 giờ. Vớt ra, phơi khô rồi mới tẩm muối.
– Phá cố chỉ chích rượu: (Phá cố chỉ 10kg, rượu 2kg) trộn đều phá cố chỉ với rượu để một giờ cho hút hết rượu, dùng lửa nhỏ rồi sao cho có mùi thơm.
Địa chỉ bán cây giống phá cố chỉ uy tín ?
Địa chỉ: Ngách 68/45, ngõ 68, đường Nguyễn Văn Linh, phường Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Quý khách xin vui lòng liên hệ với Cây cảnh Hải Đăng để được các chuyên viên của chúng tôi tư vấn lựa chọn sản phẩm cây giống phá cố chỉ phù hợp.
- Chúng tôi sẽ chụp ảnh sản phẩm cho quý khách nếu có yêu cầu.
- Chúng tôi sẽ kiểm tra kỹ hàng hóa đảm bảo chất lượng và đúng quy cách trước khi giao.
- Quý khách ở xa vui lòng tiến hành chuyển khoản trước hoặc đặt cọc trước. Nếu quý khách ở nội thành có thể áp dụng ship nhanh với chi phí 50k một lần ship.
Tài liệu tham khảo
- Phá cố chỉ – Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam – Đỗ Tất Lợi.
- Cây phá cố chỉ – Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam – Tập II – Đỗ Huy Bích cùng các tác giả khác.
- Neha Mahajan, Bhupendra Koul, Pankaj Gupta, Bhahwal Ali Shah, Joginder Singh (2022). “Psoralea corylifolia L.: Panacea to several maladies”. South African Journal of Botany. Volume 149, pages 963 – 993.
- Harumi Katsura, Ryo-ichi Tsukiyama, Akiko Suzuki và Makio Kobayashi (2001). “In vitro anti-microbial activities of bakuchiol against oral microorganisms”. Antimicrobial Agents and Chemotherapy. 45(11): 3009 – 3013.
- Chwan-Fwu Lin, Yu-Ling Huang, Mei-Yin Chien, Shuenn-Jyi Sheu và Chien-Chih Chen (2007). “Analysis of bakuchiol, psoralen and angelicin in crude drugs and commercial concentrated products of Fructus Psoraleae“. Journal of Food and Drug Analysis. 15(4): 433 – 437.
- Xiang Li, Yun Jung Lee, Youn Chul Kim, Gil Saeng Jeong, Hao Zhen Cui, Hye Yoom Kim, Dae Gill Kang, Ho Sub Lee (2011). “Bakuchicin induces vascular relaxation via endothelium-dependent NO-cGMP Signaling”. Phytotherary Research. 25(10): 1574 – 1578.
- R.N. Yadava, Vikash Verma (2005). “A new biologically active flavonol glycoside from Psoralea corylifolia (Linn.)”. Journal of Asian Natural Products Research. 7(4): 671 – 675.
- Jung Ho Choi, Mun-Chual Rho, Seung Woong Lee, Ji Na Choi, Koanhoi Kim, Gyu Young Song & Young Kook Kim (2008). “Bavachin and isobavachalconeacyl coenzyme A: cholesterol acyltransferase inhibitors from Psoralea corylifolia“. Archives of Pharmacal Research Article. 31(11): 1419 – 1423.
- Seung Woong Lee, Bo Ra Yun, Mi Hwa Kim, Chan Sun Park, Woo Song Lee, Hyun-Mee Oh, Mun-Chual Rho (2012). “Phenolic compounds isolated from Psoralea corylifolia inhibit IL-6-induced STAT3 activation”. Planta Medica. 78(09): 903 – 906.
Sản phẩm liên quan
Bạn có thể xem thêm
Cây tương tự, giá tham khảo ở các nhà vườn khác
















